Total Pageviews

Friday, February 8, 2013

Chiêm tinh - Năm quý Tỵ



Theo hãng tin AFP, khi mà năm con rồng sắp qua, các nhà chiêm tinh học châu Á đang cảnh báo rằng năm “rắn nước đen” sắp tới, bắt đầu từ ngày 10/2 theo dương lịch, có thể là một năm đầy khó lường với những thảm họa. 
 
Trong những năm Tỵ gần đây đều đã có những biến cố lớn xảy ra. Năm 2001 đó là vụ khủng bố kinh hoàng vào nước Mỹ ngày 11/9 khiến gần 3.000 người thiệt mạng. 12 năm trước đó, cũng một năm Tỵ khác là thời điểm bức tường Berlin sụp đổ, Liên Xô tan rã. 

Xa hơn, năm 1941 có sự kiện Trân Châu Cảng nổi tiếng khi không quân Nhật tấn công hạm đội hải quân Mỹ tại đảo Hawaii. 12 năm trước đó cả thế giới chứng kiến cuộc Đại suy thoái kinh tế cũng vào một năm con rắn khác, năm 1929.

Nhà phong thủy nổi tiếng tại Hong Kong Mak Ling-ling dự báo rằng, trong năm Quý Tỵ tới, các thị trường chứng khoán có thể sẽ bình lặng trong nửa đầu năm trước khi gặp sóng gió vào cuối năm. “Điều đó giống như cách di chuyển của loài rắn - nhanh, hung dữ và sắc xảo nhưng cũng khó lường và phức tạp”, bà Mak nói. 

Bà Mak cũng cảnh báo rằng dù thị trường đang lạc quan, khủng hoảng tại khu vực đồng euro sẽ không thể phục hồi hoàn toàn trong khi kinh tế Mỹ sẽ khó lòng thực sự tăng tốc trước năm 2014. Nhà nghiên cứu phong thủy này còn nhận định rằng Tổng thống Mỹ Obama sẽ “ít bảo thủ hơn” trong nỗ lực hồi sinh nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Các nhà chiêm tinh khác thì cho rằng năm con rắn sắp tới có đặc trưng là yếu tố thủy, đại diện cho sự sợ hãi, nằm trên yếu tố hỏa, đại diện cho sự lạc quan. Sự đối đầu của hai yếu tố này có thể dẫn tới những hỗn loạn vào tháng 5 tới.

“Đây là một năm thảm họa… Rất nhiều thứ sẽ không diễn ra một cách suôn sẻ”, Tan Khoon Yong, đại diện công ty tư vấn Way OnNet Group tại Singapore, dự báo. “Liên minh châu Âu có thể đổ vỡ, đồng euro có thể gặp rắc rối”, nhà chiêm tinh 59 tuổi nói, cảnh báo khả năng đổ vỡ của khu vực EU sẽ đến trong tháng 5.

Nhà chiêm tinh người Hong Kong Chow Hon-ming thì cho rằng một tháng 5 sóng gió sẽ chứng kiến tranh chấp giữa Nhật và Trung Quốc có thể leo thang thành một cuộc “chiến tranh ngắn” khi 2 “con rắn” đánh nhau.

“Tháng 5 là “tháng Tỵ”, năm nay là năm Tỵ nên vào khoảng ngày 5/5- 6/6, hai con rắn đó sẽ gặp nhau. Đó là lí do vì sao các vấn đề giữa Trung Quốc và Nhật Bản rất căng thẳng. Áp lực sẽ lên đến đỉnh điểm và họ có thể sẽ chiến tranh”, Hon-ming nhận định. 

Ngoài nhận định chung về tình hình thế giới, các nhà chiêm tinh cho rằng năm nay sẽ là năm thành công của những người cầm tinh con rắn, ví dụ như Tổng bí thư Trung Quốc Tập Cận Bình và ca sỹ Psy, người nổi tiếng với ca khúc Gangnam Style, dù năm nay là năm tuổi của họ.
Theo các nhà chiêm tinh, ông Tập, sinh năm 1953 và ca sỹ 36 tuổi người Hàn Quốc, không gặp xui xẻo trong năm tuổi nhờ có ngày sinh và mạng tốt. Người đứng đầu đảng Cộng Sản Trung Quốc được nhận định sẽ có một cuộc chuyển giao quyền lực suôn sẻ.



Thanh Tùng

Thursday, February 7, 2013

Mùa xuân nhớ ngôi sao Rock Việt đã bay khỏi bể khổ







    Gỗ Lim (Việt Nam) Live at CAMA festivall Hanoi Vietnam

Đức Đạt Lai Lạt Ma đàm luận (2)





HỎI:  Tôi nghĩ lòng từ bi cho tất cả mọi sự sống là quan trọng nhưng có nhiều người họ không yêu mến chính họ và không có lòng từ bi cho chính họ.  Vậy thì làm sao chúng ta yêu mến chính mình và yêu mến người khác cùng những sự sống khác?


ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA:  Lòng yêu mến hay từ ái chân thành, trước nhất là yêu mến chính mình.  Đôi khi có sự lạ kỳ là có sự ghét bỏ chính mình, những người như vậy thì không thể phát triển lòng yêu thương từ ái cho người khác.  Nên trước tiên là yêu mến chính mình,rồi thì nghĩ người khác cũng như chính mình, họ cũng muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau.  Họ cũng cùng có những quyền như vậy.  Thấu hiểu như vậy và mở rộng lòng yêu thương từ ái đến những người thân bạn bè rồi mở rộng ra đến láng giềng hàng xóm, rồi đến những kẻ thù của chính mình, rồi đến toàn thể chúng sanh.

Ngày trước tôi quên việc xem kẻ thù với hai trình độ của từ bi.  Một trình độ của từ bi là nhân tố sinh học như chó, mèo, chim, một số côn trùng như muỗi, tôi thật sự nghi ngờ chúng có khả năng của từ bi hay không tôi không biết.  Một lần ở Oxford, Anh Quốc, trong buổi nói chuyện của tôi, ở hàng đầu một số giáo sư Oxford đường  hoàng, tôi  hỏi họ một câu hỏi, trong não bộ chúng ta chúng ta có khả năng phát triển cảm kích việc làm của người khác về sự tử tế ân cần như thế, chúng ta có cơ sở ấy, chó mèo cũng có khả năng ấy, và dường như những con muỗi không có khả năng ấy (mọi người cười).  Vì khi cảm thấy vui tôi cho muỗi máu của tôi, chúng hút máu của tôi và toàn thân chúng biến thành màu đỏ và rồi chúng bay đi không có biểu hiện gì của sự biết ơn (mọi người cùng cười).  Nên tôi chỉ đơn giản hỏi những vị giáo sư ấy rằng, mức độ nào của não bộ biểu lộ khả năng biết ơn.  Tôi nghĩ là một ngày nào đó khoa học sẽ khám phá ra.  Cho đến bây giờ chưa có câu trả lời.  Nên những con muỗi là việc khác.  Còn nhiều động vật có vú và chim chóc chúng có khả năng để biểu lộ yêu thương mến mộ.  Như những con chim và những con thú khác, khi có sự đe dọa nào đối với con cái chúng, mẹ chúng sẳn sàng để chiến đấu chống lại hiểm họa ấy.  Điều ấy không phải đến từ tín ngưỡng tôn giáo.  Nhưng đấy là nhân tố sinh học.  Chúng ta cũng có những khí cụ sinh học để phát triển lòng yêu mến hay quan tâm cho những người khác.  Rõ chứ.  Nhưng mà lòng yêu mến ấy là thiên vị và giới hạn với định hướng rất nhiều đối với thái độ của người khác.  Lòng yêu mến ấy như hạt giống trong trí thông minh của con người và chúng ta thấy giá trị của sự nhiệt tình hay từ bi ấy và sự nguy hại của thù oán, sân hận.  Qua cách ấy với sự hổ trợ của trí thông minh loài người, lòng yêu mến hay từ bi sinh học giới hạn ấy với sự thông minh hay tuệ trí của con người có thể phát triển xa hơn bây giờ không bị định hướng bởi thái độ của người khác, mà chỉ xem họ như những chúng sanh mà thôi.  Nên trình độ yêu thương hay từ bi rộng mở ấy có thể tiếp cận một cách dễ dàng đến kẻ thù của chúng ta.  Cho đến khi chúng ta còn quan tâm đến những kẻ ấy như kẻ thù của ta, nhưng họ vẫn là những chúng sanh, đặc biệt trong loài người, họ là những người anh chị em, họ cũng xứng đáng cho lòng từ ái bi mẫn của chúng ta.  Trình độ từ bi ấy là không thành kiến, không thiên vị, và không giới hạn.  Giáo huấn về từ ái và bi mẫn là loại từ bi ấy, lòng từ bi không thành kiến.

Một người bạn Hồi Giáo của tôi, ông ấy nói với tôi rằng, một hành giả Hồi Giáo chân thành phải mở rộng lòng yêu thương đến tất cả những tạo vật của thánh Allah.  Không có sự phân biệt bạn bè của tôi, kẻ thù của tôi.  Không.  Kẻ thù ta cũng là tạo vật của Allah, của Thượng Đế.  Nên toàn bộ loài người, toàn bộ thế giới được tạo dựng bởi Thượng Đế.  Có phải thế không? Nên những người tin tưởng chân thành hiến dâng trọn vẹn cho Thượng Đế thì phải tôn trọng, phải mở rộng lòng yêu thương đến tất cả những tạo vật do Thượng Đế tạo ra.  Thế đấy.  Nên như vậy là không thành kiến.  Nên khi chúng ta nói về tha thứ, từ bi, bao dung ,… đôi khi người ta lầm lẫn bao dung, tha thứ có nghĩa là chấp nhận những việc làm sai trái của người khác.  Không phải như thế.  Chúng ta phải làm sự phân biệt giữa người làm và việc làm (của người ấy).  Rõ chứ.  Đối với kẻ thù, người làm, thì tha thứ.  Việc làm sai trái của người ấy, như hành động của người ấy, đôi khi chúng ta phải có hành động phản kháng lại.  Không phải từ động cơ thù hận như từ lòng quan tâm đến sự cát tường của chính những người ấy.  Nếu chúng ta để những hành vi sai trái của những người ấy tiếp tục, một cách rõ ràng những người ấy sẽ đau khổ.  Nên nhằm để làm dừng lại hành động sai trái của những người ấy vì sự quan tâm của chính những người ấy đôi khi chúng ta phải phản kháng lại, sự phản kháng ấy vì sự cát tường của những người ấy.  Nên quý vị thấy chúng ta cần làm sự phân biệt, tha thứ, đúng nghĩa của tha thứ là không bao giờ gia tăng cảm giác tiêu cực đối với những người ấy.  Đấy là  ý nghĩa của tha thứ.  Tha thứ không có nghĩa là quên lãng.  Nếu quý vị quên lãng thì không liên hệ gì với tha thứ.  Rõ chứ.  Những người Tây Tạng bị người Trung Cộng giam cầm, tra tấn, giết  hại, như hành động ấy được quan tâm, chúng tôi chống lại, nhưng những người làm ra quyết định ấy ở trình độ con người, chúng tôi luôn luôn giữ lòng từ bi.  Nên hãy là sự phân biệt, những người thực hiện hành động ấy, và hành động của họ.  Đấy là hai việc riêng biệt. 

Như sự thực tập của chúng ta về sám hối.  Trong thời gian sám hối, chúng ta làm sự phân biệt: Tôi làm lỗi lầm, tôi làm những việc sai quấy như vậy như vậy.  Nên ta tách biệt hành động của chúng ta, chúng ta nhận ra hành động của chúng ta là sai.  Chúng ta có khả năng tách biệt rằng chúng ta đã làm những việc sai lầm, hôm nay tôi hối hận.  Nên tương tự thế, kẻ thù ta, như hành động của họ được quan tâm, chúng ta cần đối kháng lại, nhưng người làm hành động ấy, chúng ta phải giữ lòng từ bi, tha thứ.  Rõ chứ!  Như thế đấy.

Nên từ bi có những trình độ khác nhau lòng từ bi thành kiến và lòng từ bi vô giới hạn không thiên vị.  Nên tự ghét bỏ mình là rất tệ hại.  Và thực sự, khảo sát xa hơn, ta hỏi, tại sao người ta phát triển sự tự ghét bỏ chính mình?  Sâu xa bên trong, ích kỷ ở đấy, lòng vị kỷ ngu ngơ.  Rồi thì chúng ta làm ra một số lỗi lầm nào đấy, và chúng ta cảm thấy với đời sống vật chất chúng ta cần mang đến điều gì đấy, qua cách ấy chúng ta phát triển sự tự ghét bỏ.

Tôi không nghĩ từ lúc sinh ra chúng ta đã có sự tự ghét bỏ.  Tôi  không nghĩ như thế.  Dưới những hoàn cảnh nào đó, chúng ta có một viễn kiến nào đó, chúng ta có một hoài bảo hay một tham vọng nào đó, cảm giác đó đã đưa đến sự vị kỷ và sự tự ghét bỏ.  Nên sự tự ghét bỏ đó một cách căn bản liên hệ với động cơ vị kỷ và đầu óc  hẹp hòi.  Các bạn nghĩ thế nào?  Quý vị có sự tranh luận nào sâu xa hơn không? (mọi người cười).  Nếu có sự tranh luận nào đó, tôi rất hoan hỉ!  Có sự tranh luận nào không?  Đôi khi tôi cảm thấy hơi tự hào (?).  Trong hệ thống học tập của chúng tôi thường tranh luận rất nhiều.  Khi một người đưa ra một ý kiến thì có những ý kiến đối lập lại, đấy là sự rèn luyện của chúng tôi.  Tôi không phải là một người tranh luận giỏi, nhưng tôi có học tranh luận.  Nên tôi cũng thích những sự tranh luận.  Tôi nói một điều gì đó và có những sự tranh luận.  Và có những sự tranh luận xa hơn, thật là hấp dẫn, thật là tốt đẹp.  Có câu hỏi gì nữa không?  (một người đưa tay lên) Ô, vâng.

Đức Đạt lai Lạt Ma Đàm Luận (1)

Với Một Nhóm Phật Tử Đông Nam Á


Enlarge font

Trong xã hội ngày nay, rất nhiều khủng hoảng tinh thần, có khi có những biểu hiện đẹp đẻ nhưng tiềm tàng là sự khủng hoảng đạo đức, khủng hoảng tinh thần.

Hai ngày qua tôi nghĩ quý vị đã lắng nghe một cách rất nghiêm túc nên tôi rất hạnh phúc, tốt lắm.  Bây giờ là chương trình hỏi đáp, quý vị có câu hỏi gì?

HỎIĐức hạnh chính yếu nào mà chúng ta phải tuân thủ?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA:  Điều này thật đơn giản!  Tôi nghĩ là một số hành vi thân thể cũng như lời nói đem đến cảm nhận vui vẻ.  Những con chó hay mèo nếu chúng ta cho chúng thức ăn và vuốt ve chúng thế này.  Chúng cảm thấy hạnh phúc, chúng biểu lộ đáp ứng lại từ thái độ hạn chế tình cảm của chúng, và thường thì những con chó hay mèo sẽ liếm chúng ta.  Đấy là cách biểu lộ tình thương và bi mẫn.  Nên những hành vi này là đức hạnh cũng như giọng điệu êm ái, con thú nhận ra giọng nói của chúng ta và biểu lộ thái độ thân thiện.   Do vậy, chúng ta là những con người, trình độ loài người cũng giống như vậy, hơn như vậy, biểu lộ một nụ cười, một nụ cười chân thành, không phải là một nụ cười giả dối (mọi người cười) hay một nụ cười xã giao (mọi người cười), đôi khi tạo nên sự nghi ngờ.  Thật thế.  Nụ cười chân thành nhân bản ban cho người khác một cảm giác vui thích.  Rồi thì dĩ nhiên một sự biểu lộ dễ thương về sự quan tâm cho sự cát tường của mọi người với động cơ chân thành thì đấy là đức hạnh.  Do vậy, bất cứ hành vi thân thể, biểu hiện lời nói đem đến một số hạnh phúc nào đó đến người khác hoàn toàn dựa trên động cơ.  Động có này là nhìn nhận người khác cũng như chính ta, muốn hạnh phúc và mọi người đều có quyền để đạt đến niềm hạnh phúc ấy, một đời sống hạnh phúc.  Nếu với cảm nhận ấy, biểu lộ bằng hành vi thân thể, lời nói, đấy là những hành vi đức hạnh và những thứ như thế.  Đấy là những gì mà tôi thường nói là đạo đức thế tục, cho dù đối với những người có tín ngưỡng hay những người không tín ngưỡng.  Ngay cả đối với những người thật sự chống lại tôn giáo, okay, nhưng họ vẫn là những con người, họ là một bộ phân của bảy tỉ con người, những người này vẫn cần đạo đức hạnh kiểm của loài người.  Nên những người này dù không thích thú với tôn giáo thì họ vẫn cần những đức hạnh thế tục.  Nên tôi thường diễn tả căn bản của giáo huấn Đạo Phật là bất bạo động.  Tại sao chúng ta cần bất bạo động, tại sao chúng ta cần tránh bạo động?  Đấy là quan điểm là lý thuyết đấy là niềm hạnh phúc của chính chúng ta lệ thuộc vào những người khác.  Hạnh phúc tương lai tùy thuộc vào hôm nay.  Mọi thứ liên hệ hổ tương với nhau.  Cho nên vì sự quan tâm về lâu về dài của chúng ta hãy tránh làm tổn hại người khác.  Nên hành vi bất bạo động có hai trình độ:  nếu có thể thì hãy phụng sự người khác tối đa như có thể, nếu không thể thì tối thiểu không làm tổn hại người khác.  Đấy là nguyên tắc đức hạnh theo quan điểm của Đạo Phật.

(Đức Đạt Lai Lạt Ma nhảy mũi và ngài nói: bây giờ quý vị có thể bị cảm, cái cảm của Đạt Lai Lạt Ma khi quý vị trở lại xứ sở của quý vị bị chứng cảm mạo thánh thiện của Đạt Lai Lạt Ma (holy dalai lama's cold',ngài cười và mọi người cùng cười) Câu hỏi tiếp theo.

HỎI:  Điều gì xảy ra nếu lòng từ bi thiếu chân thành?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA:  Điều này thật mâu thuẫn.  Nếu chúng ta biểu lộ lòng từ bi với người khác thì không có chuyện gì phải lừa dối.  Thí dụ, tôi là một bậc cha mẹ thật tử tế, là một vị thầy thật chân thật, một ý nghĩa ân cần trọn vẹn của trách nhiệm về tương lai của con cái, hay tương lai của học sinh thế thì xuất phát từ sự quan tâm chân thành đến sự cát tường của con cái hay học sinh, với động cơ ấy đôi khi có đôi chút không thật thỉ được thôi.  Nhưng sự không thật ấy là sự lừa dối thông tuệ.  Có phải không?  Tốt!  Cho là có một học nhân thật là lười biếng, không bao giờ chú tâm nhiều vào việc học hành.  Vị thầy có thể nói, con phải học tập cần mẫn nếu không thì tuần tới, tháng tới có những chuyện kinh khủng xảy ra.  Đấy  là một sự nói dối. Đem đến một sự loại sợ hãi nào đấy, nhưng xuất phát từ động cơ chân thành để đem đến một nổ lực nào đấy đến những học nhân lười nhác ấy.  Đấy là một sự đe dọa nhưng không phải bằng hành động bạo lực mà như là nói với những môn đệ ấy rằng Đức Phật rất giận với các con.  Đấy là nói dối.  Nhưng với động cơ rất chân thành. Okay.  Nhưng nếu quý vị dùng sự dối trá vì lợi ích của chính mình và không quan tâm đến quyền lợi của người khác thì sự dối trá ấy không đi đôi với từ bi.  Rõ chứ!

HỎI:  Nếu tôi đạt đến giải thoát bằng nổ lực của chính tôi thì tại sao tôi phải cần đến nghi lễ cúng dường?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA:  Nói một cách thân  mật, tôi thường bình phẩm một số truyền thống khi người ta thỉnh cầu một số lạt ma về những sự quan tâm của họ về sức khỏe hay về sự thành công của họ, những thứ như thế.  Rồi thì có những luận điển rất ngắn cũng nói về những việc nhằm để vượt thắng những điều không may mắn,…, môn đồ nên làm những nghi lễ này, nghi lễ nọ,…  Tôi chỉ bình phẩm những thứ ấy là như vậy là sai lầm.  Cách tốt nhất để vượt thắng những điều không may, hay những thứ xui xẻo hãy tự mình làm nên những công đức là thiền quán về tánh không, thiền tập một cách thật sự về lòng vị tha; đấy là cách tốt nhất để tăng trường đạo đức của chúng ta, hạnh kiểm của chúng ta.  Qua cách ấy cuộc sống của chúng ta trở nên hạnh phúc hơn.  Đấy là qua một ít kinh nghiệm của chính tôi mà tôi có thể nói với quý vị.  Trái tim càng nhiệt tình hơn, càng quan tâm đến sự cát tường của người khác, chúng ta đón nhận một niềm hòa bình nội tại vô vàn, một vững vàng, tin tưởng.  Một lợi ích tuyệt vời như thế cho sức khỏe của chính mình và mỗi đêm ta có một giấc ngủ vô cùng ý nghĩa, vô cùng êm ái.  Tôi chưa từng thử thuốc ngủ hay thuốc an thần.  Thuốc ngủ hay an thần là ở đây và ở đây (chỉ vào ngực và đầu) phối hợp với nhau: tuệ trí và vi tha hợp lại thật sự là y dược tốt lành để giữ cho chúng ta có sức khỏe tốt lành, như thế.  Đấy là những gì tôi có thể nói với quý vị từ kinh nghiệm của chính tôi.  Như tôi đã đề cập từ lúc đầu, chúng ta là những con người giống nhau, tôi cũng có những cảm xúc tàn phá: sân hận, luyến ái, ganh tỵ, những thứ này tôi cũng có.  Nhưng khi những cảm xúc sắp sinh khởi thì tuệ trí của tôi nói với tôi rằng đây là những cảm xúc tàn phá, không tốt, không lợi ích.  Nên tuệ trí của tôi nói với tôi rằng bạn không nên tiếp nhận cảm xúc, nhưng thứ này thật sự là tàn phá.  Cách ấy thay đổi tâm thức chúng ta.  Nên tôi thường diễn tả, phương pháp Phật Giáo sử dụng và thực tập nó là sử dụng trí thông minh của con người một cách tối đa, qua cách ấy để chuyển hóa cảm xúc của chúng ta chứ không phải cầu nguyện.  Tôi nghĩ những người lười biếng, thật dễ dàng hơn để cầu nguyện Đức Phật, tất cả trách nhiệm đặt lên vai của Ngài, chúng ta chỉ nằm xuống mà ngủ, mà thư giản (mọi người cười).  Có phải thế không?     Như vậy là không thực tế và không phải là sự thực hành của Đạo Phật.  Đức Phật tuyên bố rằng 'mỗi người là vị thầy của chính mình' vì Đạo Phật không có khái niệm về đấng tạo hóa.  Một cách căn bản chính mình là tạo hóa.  Như thế ấy.  Sự tự tạo hóa. 

Rồi thì tôi nghĩ rằng những nghi lễ cúng dường (puja), cách này tôi nghĩ có những lợi ích nào đấy, chúng ta dâng hiến thứ gì đó đến người nào đó có là tăng sĩ hay nữ tu, với lời thỉnh cầu, xin hãy tiến hành một  nghi lễ cúng dường nào đấy với tâm tư tối thiểu một số sư thầy hay sư cô để giúp tạo công đức nên cả tăng ni lẫn Phật từ đều có thể tạo nên công đức.  Tôi thường nói nửa đùa với người Tây Tạng rằng, Long Thọ, Thánh Thiên, Phật Hộ, Vô Trước,… tôi không nghĩ rằng Long Thọ từng cầm một cái trống lắc, để khởi đầu một nghi lễ và những người đệ tử khác đánh chập chỏa, thổi kèn, và Nguyệt Xứng đánh trống tùng tùng, những thứ như thế (mọi người cười).  Tôi không nghĩ như thế.  Tất cả những thứ này, tôi nghĩ với sự tôn kính, tôi nghĩ là sự sáng tạo của người Tây Tạng qua sự thiếu kiến thức trung thực bất thiếu kiến thức.  Tôi nghĩ như thế.

Wednesday, February 6, 2013

Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời





Câu hỏi: Ngài tự nghĩ về mình như thế nào ?

Trả lời: Tôi luôn coi mình như là một nhà sư Phật Giáo đơn giản. Tôi cảm thấy đó là người thật của tôi. Tôi cảm thấy rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma là một người cai trị thời gian là một định chế nhân tạo. Miễn là những người chấp nhận Đức Đạt Lai Lạt Ma, họ sẽ chấp nhận tôi. Tuy nhiên, là một vị sư là một cái gì đó thuộc về tôi. Không ai có thể thay đổi điều đó. Sâu thẳm bên trong, tôi luôn luôn xem xét bản thân mình một nhà sư,


ngay cả trong những giấc mơ của tôi. Vì vậy, tự nhiên tôi cảm thấy bản thân mình như một người tôn giáo. Ngay cả trong cuộc sống hàng ngày của tôi, tôi có thể nói rằng tôi để 80% thời gian của tôi về các hoạt động tinh thần và 20% về Tây Tạng như một toàn thể. Đời sống tâm linh hay tôn giáo là một cái gì đó tôi biết và có quan tâm lớn. Tôi có một số loại tự tin trong đó, và do vậy tôi muốn học nhiều hơn. Về chính trị, tôi không có giáo dục hiện đại ngoại trừ một ít kinh nghiệm. Đó là một trách nhiệm lớn đối với một người nào đó không được trang bị. Đây không phải là công việc tình nguyện, nhưng một cái gì đó mà tôi cảm thấy tôi phải theo đuổi vì niềm hy vọng và tin tưởng rằng nhân dân Tây Tạng đặt trên tôi.

 
Hỏi: Ngài sẽ là Đức Đạt Lai Lạt Ma cuối cùng?


Trả lời: Cho dù tổ chức của Đức Đạt Lai Lạt Ma còn duy trì hay không phụ thuộc hoàn toàn vào mong muốn của người dân Tây Tạng. Nó là để họ quyết định. Tôi đã nói rõ sớm nhất là vào năm 1969. Ngay cả trong năm 1963, sau bốn năm sống lưu vong, chúng tôi đã thực hiện một dự thảo hiến pháp cho một Tây Tạng tương lai dựa trên hệ thống dân chủ. Hiến Pháp nói rõ rằng quyền lực của Đức Đạt Lai Lạt Ma có thể được gỡ bỏ bởi một cuộc bỏ phiếu đa số hai phần ba trong số các thành viên của Hội đồng. Tại thời điểm hiện tại, tổ chức của Đức Đạt Lai Lạt Ma là hữu ích cho văn hóa Tây Tạng và người dân Tây Tạng. Vì vậy, nếu tôi được là để chết hôm nay, tôi nghĩ rằng người dân Tây Tạng sẽ chọn để có một Đức Đạt Lai Lạt Ma. Trong tương lai, nếu tổ chức của Đức Đạt Lai Lạt Ma không còn phù hợp, hữu ích và thay đổi tình hình hiện tại của chúng ta, sau đó tổ chức của Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ chấm dứt thân tôi, tôi cảm thấy tổ chức của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phục vụ mục đích của nó. Gần đây hơn, từ năm 2001, bây giờ chúng ta có một cái đầu được bầu dân chủ của chính quyền của chúng tôi, Kalon Tripa. Kalon Tripa điều hành các công việc hàng ngày của chính phủ chúng tôi và chịu trách nhiệm của cơ sở chính trị của chúng ta. Nửa đùa nửa thật, tôi nêu rõ rằng tôi bây giờ nửa phần về hưu.

Thần chú Kim cang Thượng sư


OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM


 
OM AH HUM
 
Những âm OM AH HUM có nghĩa ngoài, nghĩa trong và nghĩa mật. Nhưng ở mỗi tầng như vậy, OM đều tiêu biểu cho thân. AH là lời và HUM là ý. Cả ba âm tiêu biểu năng lực ân sủng của chư Phật để chuyển hóa thân, lời, ý.

Theo nghĩa ngoài, OM tịnh hóa mọi ác nghiệp của thân, AH của lời, và HUM của ý. Nhờ tịnh hóa thân, lời, ý, OM AH HUM đem lại ân sủng của thân, lời, ý chư Phật. OM cũng là tinh túy của hình sắc, AH của âm thanh, HUM của ý. Khi đọc thần chú này, là ta tịnh hóa hoàn cảnh cũng như bản thân và những người ở trong đó. OM tịnh hóa tất cả nhận thức, AH tất cả âm thanh, và HUM tất cả tâm, ý nghĩ và cảm xúc.

Theo nghĩa trong, OM tịnh hóa những huyệt đạo vi tế, AH tịnh hóa nội phong hay khí lực, và HUM tịnh hóa tinh chất sáng tạo.

Ở tầng mức sâu hơn, OM AH HUM biểu trưng ba thân của Liên Hoa bộ: OM là Pháp thân, Phật A Di Đà, đức Phật của Ánh sáng vô lượng, AH là Báo thân, Quán Thế Âm, vị Phật của tâm đại bi, và HUM là Ứng hóa thân, Liên Hoa Sanh. Điều này có nghĩa, trong trường hợp   của thần chú này, cả ba thân đều thể hiện trong một vị là Padmasambhava, Liên Hoa Sanh.

VAJRA GURU PADMA
VAJRA được ví như kim cương, đá quý nhất và cứng nhất. Cũng như kim cương có thể cắt bất cứ gì, mà chính nó thì không có gì phá hủy được, cũng thế trí tuệ bất nhị bất biến của chư Phật không bao giờ bị hại hay bị phá hủy bởi vô minh, và có thể cắt đứt mọi vọng tưởng chướng ngại. Những đức tính và hoạt động thân, lời, ý của chư Phật có thể làm lợi lạc hữu tình với năng lực sắc bén vô ngại như kim cường. Và cũng như kim cương không tỳ vết, năng lực sáng chói của nó tuôn phát từ sự chứng ngộ bản chất Pháp thân của thực tại, bản chất của Phật A Di Đà.

GURU có nghĩ là "sức nặng", chỉ một người tràn đầy đức tính kỳ diệu, thể hiện trí tuệ, hiểu biết, từ bi và phương tiện thiện xảo. Cũng như vàng ròng là kim loại nặng nhất, quý nhất, cũng thế, những đức không lỗi, không thể nghĩ bàn của bậc thầy làm cho vị ấy không ai vượt qua được, thù thắng hơn tất cả. GURU tương đương với Báo thân, và với Quán Thế Âm, vị Phật của tâm đại bi. Lại nữa, vị Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) giảng dạy con đường Mật tông, biểu tượng là Kim cương, và nhờ thực hành Mật tông mà ngài đạt giác ngộ tối thượng, cho nên ngài được biết dưới danh hiệu là Kim cang thượng sư.
PADMA, hoa sen, có nghĩa là Liên hoa bộ trong ngũ bộ, và nhất là khía cạnh Ngôn ngữ giác ngộ của chư Phật ấy. Liên hoa bộ là dòng họ Phật mà con người thuộc vào. Vì Padmasambhava là ứng thân trực tiếp của Phật A Di Đà, vị Phật nguyên ủy của Liên hoa bộ, nên ngài được gọi là "PADMA", hoa sen. Danh hiệu Liên Hoa Sanh của ngài kỳ thực ám chỉ câu chuyện ngài sinh ra trên một đóa sen nở.
Khi những âm VAJRA GURU PADMA đi liền nhau, thì cũng có nghĩa là tinh tuy và ân sủng của Kiến, Thiền và Hành. VAJRA nghĩa là tinh chất của chân lý bất khả hoại, bất biến, cứng chắc như kim cương, mà chúng ta cầu mong thực hiện được trong Kiến của chúng ta. GURU tiêu biểu tính chất ánh sáng và sự cao quý của giác ngộ, mà ta cầu cho kiện toàn trong thiền định của mình. PADMA tiêu biểu Bi mẫn, mà chúng ta cầu thể hiện được trong Hành động của chúng ta.

Vậy, nhờ tụng đọc thần chú này mà ta nhận được ân sủng của tâm giác ngộ, những đức cao quý và lòng bi mẫn của Padmasambhva và tất cả chư Phật.

SIDDHI HUM
SIDDHI là thành tựu, đạt đến, ân sủng và chứng ngộ. Có hai thứ thành tựu: tương đối và tuyệt đối. Nhờ nhận được ân sủng tương đối, tất cả chướng ngại trong đời như bệnh tật được tiêu trừ, mọi ước nguyện tốt được thành tựu, những lợi lạc như sống lâu, tiền của tăng và mọi hoàn cảnh đều tốt lành, giúp cho tu tiến và chứng ngộ. Thành tựu, hay ân sủng tuyệt đối đem lại giác ngộ, trạng thái thực chứng hoàn toàn của đấng Liên Hoa Sanh để tự lợi và lợi tha. Bởi thế, nhờ nhớ đến và cầu nguyện với những năng lực thân, lời, ý của ngài mà chúng ta sẽ được những ân sủng tương đối và tuyệt đối.

SIDDHI HUM được xem là thâu tóm vào tất cả ân sủng, như nam châm hút sắt.
HUM tiêu biểu tâm giác ngộ của chư Phật, và là xúc tác thiêng liêng của thần chú. Giống như tuyên bố lên quyền năng và chân lý của thần chú: "Hãy là như vậy!" .
Ý nghĩa cốt yếu của bài chú là: "Con triệu thỉnh ngài, đấng Kim cang thượng sư, với ân sủng của ngài, xin hãy ban cho con những thành tựu thế gian và xuất thế gian".
Dilgo Khientse Rinpoche giải thích:

Mười hai âm OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM mang tất cả ân sủng của mười hai bộ kinh giáo của Phật, tinh túy của tám muôn bốn ngàn pháp môn. Bởi thế, tụng một lần thần chú Kim cang thượng sư cũng có phước như là đã đọc mười hai bộ loại kinh điển và thực hành các pháp môn khác. Mười hai bộ loại kinh điển là phương thuốc giải cứu chúng ta khỏi mười hai nhân duyên giam giữ chúng ta trong vòng sinh tử. Vô minh, hành, thức, danh sắc, sáu nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, già chết ; mười hai móc xích này là guồng máy của luân hồi sinh tử, làm cho luân hồi tiếp nối. Nhờ tụng đọc mười hai âm này của thần chú Kim cang thượng sư, mười hai nhân duyên được tịnh hóa, tẩy sạch cấu uế của nghiệp cảm và giải thoát sinh tử.


Mặc dù ta không thể trông thấy đức Liên Hoa Sanh, nhưng tâm giác ngộ của ngài đã thể hiện dưới hình thức thần chú này, thần chú này có được toàn thể ân sủng ngài. Bởi thế khi bạn kêu cầu ngài bằng cách tụng đọc mười hai âm thần chú này thì bạn sẽ được ân sủng và công đức vô lượng. Trong thời đại khó khăn này, không có chỗ nương nào bảo đảm hơn là đấng Liên Hoa Sanh, cũng như không có thần chú nào thích hợp hơn thần chú Kim cang thượng sư của ngài.

Thần chú của đại bi tâm


OM MANI PADME HUM
 
Tạng ngữ đọc là Om Mani Pémé Hung.
Thần chú này tiêu biểu tâm đại bi và ân sủng của tất cả chư Phật, Bồ-tát, nhất là ân sủng của Quán Tự Tại, vị Phật của lòng bi mẫn. Quán Tự Tại (hay Quán Thế Âm) là hiện thân của Phật trong hình thức Báo thân, lòng bi mẫn đã ăn sâu vào tiềm thức Tây Tạng tới nỗi một hài nhi vừa biết nói tiếng "Mẹ" là đã biết đọc thần chú này, OM MANI PADME HUM.






Giáo lý giải thích rằng mỗi âm trong sáu âm của thần chú OM MANI PADME HUM có một hiệu quả đặc biệt để mang lại sự chuyển hóa thuộc nhiều tầng lớp khác nhau của bản thể ta. Sáu âm này tịnh hóa tất cả sáu phiền não gốc, biểu hiện của vô minh khiến chúng ta làm những ác nghiệp của thân, lời, ý, tạo ra luân hồi sinh tử và những khổ đau của chúng ta, trong đó kiêu mạn, ganh tị , dục vọng, ngu si, thèm khát và giận dữ, nhờ thần chú mà được chuyển hóa trở về bản chất thực của chúng, trí giác của sáu bộ tộc Phật thể hiện trong tâm giác ngộ. (Chú thích: Giáo lý thường nói đến năm bộ tộc Phật, bộ tộc thứ sáu là tổng hợp của năm bộ tộc trên).

Bởi thế, khi ta tụng thần chú OM MANI PADME HUM thì sáu phiền não nói trên được tịnh hóa, nhờ vậy ngăn ngừa được sự tái sinh vào sáu cõi, xua tan nỗi khổ ẩn tàng trong mỗi cõi. Đồng thời thần chú này cũng tịnh hóa các uẩn thuộc ngã chấp, hoàn thành sáu hạnh siêu việt của tâm giác ngộ (sáu ba la mật): bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Người ta cũng nói rằng thần chú OM MANI PADME HUM có năng lực hộ trì rất lớn, che chở ta khỏi những ảnh hưởng xấu và các thứ tật bệnh.

Thường có chủng tự HRIH của Quán Thế Âm được thêm vào sau câu thần chú, làm thành OM MANI PADME HUM HRIH. HRIH là tinh yếu tâm đại bi của tất cả chư Phật, là chất xúc tác đã khởi động tâm đại bi chư Phật để chuyển hóa các phiền não của ta thành bản chất trí tuệ của các ngài.

Kalu Rinpoche viết:
Một cách khác để giải thích thần chú này là: OM là tính chất của thân giác ngộ, MANI PADME tiêu biểu ngữ giác ngộ, HUM tiêu biểu ý giác ngộ. Thân, ngữ, ý của tất cả chư Phật được tàng ẩn trong âm thanh của thần chú này. Thần chú này tịnh hóa những chướng ngại của thân, lời, ý, và đưa tất cả hữu tình đến trạng thái chứng ngộ. Khi tụng thần chú này, mà phối hợp với đức tin và tinh tấn thiền định thì năng lực chuyển hóa của thần chú sẽ phát sinh và tăng trưởng. Quả vậy, chúng ta có thể tịnh hóa bản thân bằng phương pháp ấy.

Đối với những người đã quen thuộc với thần chú này, suốt đời tụng đọc với nhiệt thành và niềm tin, thì Tử Thư Tây Tạng nói, ở trong cõi Trung Ấm: "Khi âm thanh của pháp tánh gầm thét như ngàn muôn sấm sét, nguyện cho tất cả tiếng này trở thành âm thanh của thần chú sáu âm". Tương tự, kinh Lăng Nghiêm cũng nói:

"Mầu nhiệm thay là âm thanh siêu việt của Quán Thế Âm. Đấy là âm thanh tối sơ của vũ trụ… Đó là tiếng thì thầm âm ỉ của thủy triều trầm lắng. Tiếng mầu nhiệm ấy đem lại giải thoát bình an cho tất cả hữu tình đang kêu cứu trong cơn đau khổ, và đem lại một sự an trú thanh tịnh cho tất cả những ai đang tìm sự thanh tịnh vô biên của niết bàn".